• Thứ Tư - 02/10/2019

    Current Index, một bảng xếp hạng nhánh của Nature Index, vừa công bố top 10 các cơ sở nghiên cứu của Việt Nam trong khung thời gian từ 1-6-2018 đến 31-5-2019. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên nằm trong vị trí đầu bảng, cùng với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) và Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (HUST). Đây đều là những cơ sở quen thuộc khi so với bảng xếp hạng theo năm 2019 cũng của Nature Index (Annual Table 2019). 

    Top 10 cơ sở nghiên cứu của Việt Nam, gồm:

    ·        2 Đại học Quốc gia: ĐHQG Hà Nội (VNU) và ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh (VNU-HCM); 

    ·        4 trường Đại học: ĐH Bách Khoa Hà Nội (HUST), ĐH Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội (HUS-VNU), ĐH Duy Tân (DTU), ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU);

    ·        4 Viện và Trung tâm nghiên cứu: Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam (VAST), Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành - Quy Nhơn (ICISE), Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu Cấu trúc Nano và Phân tử - ĐHQG HCM (INOMAR), Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam (OUCRU).

    Bảng Current Index. Dữ liệu đầu vào là các công bố từ 1/6/2018 đến 31/5/2019

    Nature Index là bảng xếp hạng các đơn vị nghiên cứu hoặc quốc gia, được xây dựng dựa trên nền tảng 82 tạp chí khoa học thuộc 4 nhóm lĩnh vực, gồm: Hóa học, Vật lý học, Khoa học Trái đất & Môi trường, và Khoa học Sự sống. Đây là những tạp chí rất danh tiếng, được chọn lọc ra từ hàng chục nghìn tạp chí khoa học uy tín trên khắp thế giới.

    Nature Index chọn lọc ra 82 tạp chí hàng đầu thế giới từ hàng chục nghìn tạp chí quốc tế uy tín để đưa vào đánh giá xếp hạng, thuộc 4 nhóm lĩnh vực: Vật lý, Hóa học, Khoa học Trái đất và Môi trường, và Khoa học sự sống.

    Phương pháp đánh giá của Nature Index chủ yếu dựa vào 2 chỉ số là AC (Article Count) – số lượng bài báo của đơn vị/quốc gia trong khung thời gian đang xét, và FC (Fractional Count) – tỉ lệ đóng góp của các tác giả từ đơn vị/quốc gia đó, có xét đến số địa chỉ công tác của tác giả trên mỗi bài báo. Trong đó, chỉ số FC sẽ được dùng để xếp hạng.

    Trong bảng Current Index hiện hành, đóng góp vào chỉ số xếp hạng FC = 14.08 của Việt Nam có:

    ·        63% đến từ lĩnh vực Vật lý,

    ·        17% từ Khoa học Trái đất và Môi trường,

    ·        15% từ Hóa học, và

    ·        5% từ Khoa học sự sống.

    Theo Nature Research, Current Index là bảng xếp hạng được công bố liên tục hàng tháng, với dữ liệu đầu vào là những bài báo được công bố trong vòng một năm kể từ tháng đó trở về trước. Vì vậy, có thể hiểu bảng nàycho sẽ phép đánh giá mức độ tích cực trong công bố quốc tế xuyên suốt một năm gần nhất của một đơn vị nghiên cứu hoặc một quốc gia.

    Ngoài ra, Nature Index còn có một bảng Annual Table công bố các xếp hạng theo năm tài chính, trong đó dữ liệu đầu vào là bài báo được công bố trong khung thời gian cố định từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 12 hàng năm (của năm ngay trước đó).

    Nguồn: https://www.tienphong.vn/giao-duc/cac-dai-hoc-viet-nam-tren-bang-xep-hang-nature-index-2019-1470253.tpo.