Lịch sử phát triển

Sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của Khoa Địa lý ở Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐH KHTN) hiện nay (trước đây là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội - ĐHTH HN) đã được 40 năm. Bốn mươi năm là chặng đường chưa dài nhưng rất đáng tự hào về những kết quả đã đạt được trong các lĩnh vực tổ chức, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Nhìn lại những ngày đầu thành lập gặp muôn vàn khó khăn gian khổ, nhưng thầy trò đã vượt qua để phát triển hoàn thiện và khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Từ chỗ chỉ có một số cán bộ giảng dạy và là một bộ phận của Khoa Địa lý - Địa chất, đến nay đã thành một Khoa Địa lý mạnh cả về lượng (tổng số 41 cán bộ với 23 cán bộ giảng dạy) và về chất (hiện có 17 Tiến sỹ và Tiến sỹ khoa học trong đó có 2 Giáo sư và 7 Phó giáo sư). Nhiều sinh viên được đào tạo ở Khoa Địa lý hiện nay đã trưởng thành và giữ nhiều trọng trách quan trọng cả trong quản lý và nghiên cứu khoa học. Bốn mươi năm đã qua và giờ đây chúng ta nhìn lại chặng đường phát triển để thấy được những thành tựu đã đạt được và những điều chưa thỏa mãn nhằm rút ra bài học cho tương lai. Sự phát triển của Khoa Địa lý ở Trường ĐH KHTN đều gắn với lịch sử và các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, của Trường ĐH KHTN mà tiền thân là Trường ĐHTH HN nói riêng. Có thể chia quá trình phát triển và trưởng thành của Khoa Địa lý thành 3 thời kỳ với tiêu đề như sau:

1.   Thời kỳ xây dựng ban đầu (1966 - 1975)

2.   Thời kỳ phát triển từng bước (1976 - 1995)

3.   Thời kỳ đổi mới và phát triển toàn diện (1996 - nay)

I. Thời kỳ xây dựng ban đầu (1966 - 1975)

Khoa Địa lý, Trường ĐH KHTN - Đại học Quốc gia Hà Nội mà tiền thân là Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ra đời trong những ngày tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt vào những năm giữa thập kỷ sáu mươi của thế kỷ XX. Hàng chục vạn lính Mỹ và chư hầu với máy bay, tàu chiến và các phương tiện chiến tranh hiện đại đổ bộ vào Miền Nam. Miền Bắc phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân hết sức khốc liệt của quân đội Mỹ.

Trường ĐHTH HN cũng như nhiều trường đại học khác của Miền Bắc XHCN đã phải tiến hành cuộc sơ tán chiến lược về các vùng rừng núi và nông thôn để tiếp tục sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết số 142 ngày 28/6/1966 (142/1966/NQ-TW) về việc mở rộng và hoàn chỉnh Trường ĐHTH HN, đào tạo cán bộ phục vụ cho các ngành điều tra cơ bản trong lĩnh vực khoa học Trái đất.

Ngày 15/8/1966, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày nay) đã ra Quyết định số 284/1966/QĐ-BĐH-THCN về việc thành lập Khoa Địa lý - Địa chất tại Trường ĐHTH HN. Ban giám hiệu nhà trường đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập một khoa mới - với hai ngành đào tạo, mà công việc trước mắt là xây dựng cơ cấu tổ chức và nhân sự.

Từ tháng 6 năm 1966, ba cử nhân ngành Địa lý vừa tốt nghiệp ở Liên Xô về là các thầy giáo Nguyễn Quang Mỹ, Nguyễn Hoàn, Lê Đình Vần và sau đó ít lâu là các thầy, cô giáo Lê Hưng Khởi, Nguyễn Chí Soạn và Vương Tường Vân đã được Trường ĐHTH HN tiếp nhận, đó chính là sáu thành viên đầu tiên của một khoa mới. Lúc đầu số cán bộ Địa lý này phải sinh hoạt ghép với Tổ Thổ nhưỡng thuộc Khoa Sinh học ở nơi sơ tán thuộc xóm Chuối, xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái (Thái Nguyên ngày nay). Sau đó, các cử nhân Địa chất cũng vừa tốt nghiệp ở Liên Xô và ngành Mỏ - Địa chất ở Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội về gồm các thầy Lê Văn Mạnh, Võ Năng Lạc, Vũ Chí Hiếu, Vũ Tiến Dũng, các chị trong tổ phục vụ là chị Đào, chị Hoàn,... cùng với các cán bộ Địa lý tập trung từ trước đã hình thành bộ phận nhân sự chủ yếu của một khoa mới - Khoa Địa lý - Địa chất.

Sứ mệnh kiến trúc sư trưởng của khoa mới (Chủ nhiệm Khoa) thuộc Trường ĐHTH HN được giao cho PTS Nguyễn Văn Chiển, nhà địa chất học đầu tiên của Việt Nam, người đã xây dựng thành công ngành đào tạo kỹ sư mỏ - địa chất ở Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (sau phát triển thành Trường Đại học Mỏ - Địa chất). Tháng 9 năm 1966, Khoa Địa lý - Địa chất Trường ĐHTH HN chính thức được ra đời và khai giảng khóa học đầu tiên với gần 100 sinh viên tại nơi sơ tán ở xã Lục Ba, huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái với địa chỉ bưu điện bí mật thời chiến tranh là T 104- K- BC 11C.

Được thành lập ở nơi sơ tán trong núi rừng Việt Bắc, vào giai đoạn ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ với một cán bộ đầu ngành về địa chất (PTS Nguyễn Văn Chiển) và đội ngũ các cán bộ trẻ mới tốt nghiệp đại học, hầu như không có một trang thiết bị kỹ thuật khoa học nào cho công tác đào tạo (trừ 1 kính hiển vi phân cực dùng xác định mẫu đá do PTS Nguyễn Văn Chiển mang theo về từ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội). Đó là tất cả cơ sở vật chất ban đầu của Khoa Địa lý - Địa chất (dưới đây xin gọi tắt là Khoa Địa). Có thể nói rằng sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học ở Khoa được bắt đầu từ số không tròn trĩnh: không giảng đường, không giáo trình, không thiết bị.

Văn phòng Khoa và nhà ở của cán bộ, giáo viên được làm bằng tre, vách trát rơm, mái lợp nứa bố trí rải rác ở ven đồi, dưới bóng cây Thần mát (một loại cây đại thụ). Công việc đầu tiên của Chủ nhiệm khoa Nguyễn Văn Chiển và các cán bộ trẻ ở đây, trong các căn nhà thấp, bé còn nồng mùi bùn và dưới ngọn đèn dầu đỏ quạch ban đêm là soạn thảo kế hoạch xây dựng và phát triển Khoa, trong đó xác định rõ mục tiêu đào tạo, cơ cấu ngành và chuyên ngành, lộ trình xây dựng các bộ môn, xây dựng phòng thí nghiệm, chương trình, kế hoạch đào tạo, nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng cán bộ trẻ,...

Mục tiêu của Khoa Địa được xác định là đào tạo cán bộ có trình độ đại học phục vụ nghiên cứu và điều tra cơ bản trong lĩnh vực khoa học Trái đất, với hai ngành đào tạo lớn là Địa lý và Địa chất. Ngành Địa lý có các chuyên ngành: Khí tượng, Địa mạo và Địa lý tổng hợp. Ngành Địa chất có các chuyên ngành: Khoáng vật - Thạch học, Địa hóa, Cổ sinh - Địa tầng, Kiến tạo và Đo vẽ bản đồ địa chất. Lúc này Khoa chỉ có hai bộ môn: 1) Địa lý, 2) Địa chất. Có thể nói rằng các cán bộ Địa lý được đào tạo ở Liên Xô về đã dựng nên cái khung cho trường phái Địa lý Xô Viết trong hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam. Một mô hình đào tạo tiên tiến của thế giới vào những thập kỷ giữa và cuối của thế kỷ XX. Ngoài những tư tưởng và kiến thức Địa lý tiên tiến mà họ đã lĩnh hội được, họ đã đưa về một hệ thống chương trình đào tạo, những giáo trình chuyên sâu về Địa lý và đã ứng dụng thành công vào công tác đào tạo cũng như điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở Việt Nam.

Trong hoàn cảnh gian khổ, khó khăn, thiếu thốn ở khu sơ tán với bối cảnh ác liệt của cuộc chiến tranh phá hoại do Đế quốc Mỹ tiến hành, thầy và trò Khoa Địa vẫn vững vàng trước mọi thử thách, chủ động sáng tạo và linh họat hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị của mình. Thầy và trò vừa phải dạy, vừa phải học, vừa phải tổ chức lên rừng, lên núi chặt gỗ, chặt nứa, kéo qua hàng ki-lô-mét về ven suối, ven đồi tự xây những phòng học, thư viện, nhà ở, nhà bếp,... cho lớp mình và cho sinh viên khóa sau.

Mỗi tháng, cán bộ và sinh viên ngoài công việc chung được phân công như vượt suối gánh gạo, nhận thực phẩm từ kho của Hiệu bộ (cách 7 km) và chuyển về nhà bếp của khoa. Mỗi cá nhân phải hoàn thành nghĩa vụ nộp 50kg củi khô (nữ là 35kg) và 5 kg rau xanh cho bếp tập thể.

Mặc dù chưa được khang trang, nhưng trong hoàn cảnh thời chiến những phòng học, thư viện, nhà bếp,... được dựng lên bằng tre nứa do công sức của cả thầy và trò cũng đảm bảo được đời sống để vừa dạy vừa học trong ba năm đầu tiên 1966-1967, 1967-1968, 1968-1969 ở nơi sơ tán. Đêm đến, bên ngọn đèn dầu mù khói, trong những căn nhà vách đất ẩm thấp, các cán bộ mới tốt nghiệp đại học ở Liên Xô về tất tả, hăm hở dịch sách, soạn bài giảng cho buổi lên lớp sáng mai. Lứa cán bộ trẻ vẫn phải dạy theo kiểu “ăn đong” như vậy trong một thời gian dài vì thiếu giáo trình, thiếu thư viện, thiếu thông tin khoa học và nhất là do thiếu thời gian vì vừa mới về nhận công tác ở khoa là phải lên lớp ngay... Có thể nói rằng, trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, lớp trẻ của đất nước ta đã được Đảng giáo dục cho một lý tưởng cách mạng vì non sông đất nước, vì dân tộc phồn vinh. Do đó, lớp trẻ hừng hực khí thế cách mạng luôn đi đầu trong mọi công tác và làm việc theo sự phân công của Đảng. Đội ngũ cán bộ giảng dạy trẻ của Khoa Địa cũng là những người như vậy. Với một hoài bão vì sự nghiệp nghiên cứu khoa học để xây dựng Tổ quốc sau khi chiến tranh kết thúc, từ Liên Xô trở về, trong hành trang của họ chủ yếu là sách và sách. Chính những quyển sách quý giá này đã giúp họ dịch và biên soạn thành giáo trình để dạy cho sinh viên mỗi khóa.

Vượt lên trên tất cả, công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học ở khu sơ tán vẫn dần dần đi vào nề nếp. Hệ thống chương trình của tất cả các môn học cơ sở và chuyên đề của cả hai ngành Địa lý, Địa chất đã được biên soạn và hoàn chỉnh dần. Một số giáo trình cơ bản như Địa chất đại cương, Địa mạo đại cương, Địa mạo ứng dụng,… đã được biên soạn dưới dạng in Rônêô.

Trong việc đào tạo những khoá đầu (từ Khóa I: 1966 - 1970 đến Khóa III: 1968 - 1972) bên cạnh việc tăng cường nhanh chóng đội ngũ cán bộ bằng cách tiếp nhận tiếp tục các cán bộ tốt nghiệp từ Liên Xô về, phải kể đến mối liên kết đào tạo rất có hiệu quả với các trường Đại học và Viện nghiên cứu như Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Địa chất - Khoáng sản, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn,...

Tháng 10 năm 1968, Hồ Chủ Tịch gửi thư cho ngành giáo dục, Người chỉ thị: “Dù khó khăn gian khổ đến đâu cũng quyết tâm thi đua dạy tốt, học tốt”. Thư của Người đem đến một niềm phấn khởi to lớn đối với toàn thể thầy trò Trường ĐHTH HN nói riêng và cả nước nói chung, khi Miền Bắc bước vào thời kỳ mới - thời kỳ tạm thời hoà bình, khôi phục kinh tế (1969 - 1972), sau khi Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom Miền Bắc. Đầu năm 1969, Khoa Địa từ nơi sơ tán cũ ở miền núi (xã Lục Ba, Đại Từ, Thái Nguyên) chuyển về nơi sơ tán mới ở vùng nông thôn (xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội). ở đây cán bộ sinh viên phải ở nhờ nhà dân và công cuộc xây dựng lớp học, nhà bếp,... lại được thầy trò thực hiện một lần nữa. Giữa năm 1970, do hoàn cảnh chiến tranh tạm ổn định, toàn Khoa đã trở về cơ sở ở Thượng Đình, Hà Nội - vốn là Trường Trung cấp Cơ điện (cũ) với địa chỉ 90 Nguyễn Trãi, Đống Đa, Hà Nội.

Trong hoàn cảnh mới thuận lợi hơn ở khu sơ tán, cuối năm 1970 các cán bộ Địa lý của Trường ĐHTH HN đã mở đầu cho công tác mang tính chiến lược lâu dài là đào tạo kết hợp với nghiên cứu khoa học phục vụ thực tế sản xuất và đời sống bằng hoạt động điều tra Địa lý tổng hợp Vùng kinh tế 1A Ba Vì, Hà Tây và năm sau (1971) là Vùng 1B Xuân Mai, Hà Tây. Công trình nghiên cứu thực tế này đã đặt những bước đi rất quan trọng và đúng hướng cho công tác nghiên cứu cơ bản sau này của ngành Địa lý ở Trường ĐHTH HN và thành công của nó đã hấp dẫn địa phương đến độ UBND tỉnh Hà Tây trực tiếp xin ngay 6 sinh viên vừa tốt nghiệp Địa lý ở Trường ĐHTH HN năm 1971 về công tác tại tỉnh nhà.

Cũng trong năm 1971, do yêu cầu và tính chất đào tạo của ngành Địa chất, Địa lý và Khí tượng - Hải dương tương đối khác biệt nên từ năm học 1971 - 1972 Khoa bắt đầu tuyển sinh theo các ngành học mà không tuyển sinh chung cho toàn khoa như trước đây và từ nhu cầu thực tiễn, tổ Địa lý được tách thành 2 bộ môn:

1. Địa lý - Địa mạo do thầy giáo Nguyễn Vi Dân làm Tổ trưởng Bộ môn.

2. Khí tượng - Hải dương do thầy giáo Lê Đức Tố làm Tổ trưởng Bộ môn.

Giữa lúc Khoa dần dần đi vào thế ổn định trong điều kiện thuận lợi của thủ đô cho công việc đào tạo và nghiên cứu khoa học thì tháng 4 năm 1972, Đế quốc Mỹ lại ồ ạt ném bom trở lại Miền Bắc. Cùng với các khoa khác của Trường ĐHTH HN, Khoa Địa một lần nữa tiến hành khẩn trương sơ tán lên vùng đồi núi của huyện Phú Bình - Bắc Thái (không kể đợt sơ tán ngắn, tạm thời về xã Bình Đà - Hà Tây). Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ vào Miền Bắc, tính chất ác liệt đã được thể hiện ngay từ ngày đầu. Khoa gặp vô vàn khó khăn, phương tiện vận chuyển không có đủ, vật liệu làm lớp học và làm nhà ở thiếu thốn,… phần lớn phải dựa vào dân, Ban chủ nhiệm Khoa phải cử cán bộ lên vùng chân núi Tam Đảo mua vầu, nứa, gỗ,... thuê đóng bè, thả theo hệ thống kênh đào về Phú Bình. Cả thầy trò phải lao động vất vả theo bè, vận chuyển tre, nứa, gỗ, ván bằng đôi vai đến tận nơi làm lớp học, thư viện.

Với quyết tâm của cả thầy và trò, Khoa Địa đã tìm mọi biện pháp nhanh chóng ổn định cơ sở vật chất, tổ chức tốt đời sống cho cán bộ và sinh viên ở địa điểm sơ tán mới, nhằm phấn đấu giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo trước mắt, tích cực chuẩn bị điều kiện cho sự phát triển trong những năm sau.

Đầu năm 1973, sau Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, toàn Trường ĐHTH HN, trong đó có Khoa Địa trở lại thủ đô Hà Nội.

Từ năm 1972, thực hiện Chỉ thị 222/TTg của Thủ tướng Chính phủ (222/CT-TTg), công tác nghiên cứu khoa học và phục vụ thực tế của Khoa Địa nói chung, ngành Địa lý nói riêng bước sang giai đoạn mới, giai đoạn có những công trình nghiên cứu bài bản hơn, quy mô hơn, hàm lượng khoa học và giá trị thực tế lớn hơn, nhiều đề tài lần lượt được triển khai thực hiện là:

- Điều tra địa mạo khối đá vôi Bỉm Sơn, Thanh Hoá phục vụ cho công trình xây dựng nhà máy xi măng Bỉm Sơn, 197

- Điều tra tổng hợp quy hoạch đô thị thị xã Hoà Bình phục vụ cho công trình xây dựng thuỷ điện Hoà Bình trên Sông Đà, 1972.

         - Điều tra tổng hợp vùng kinh tế Bắc Quang, Hà Giang 1972.

         - Điều tra cơ bản vùng kinh tế Sơn Dương - Tuyên Quang, 1972.

         - Điều tra quy hoạch đô thị Uông Bí, 1973.

         - Thành lập Bản đồ địa mạo tờ Lạng Sơn tỷ lệ 1/200.000, 1973 - 1976.

Đặc biệt từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1974, khi đất nước còn chưa thống nhất, Trường ĐHTH HN đã cử 1 đoàn cán bộ thuộc các Khoa Sinh học, Địa lý- Địa chất và Lịch sử tiến hành một đợt khảo sát khoa học dọc Trường Sơn, thu được nhiều kết quả và tư liệu khoa học quý giá ở phần phía Nam tổ quốc. Khoa Địa có hai thành viên tham gia đoàn này là các thầy giáo Nguyễn Vi Dân - cán bộ Địa lý và Bùi Ngọc Giảo - cán bộ Địa chất.

Trong công tác nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất theo Chỉ thị 222/TTg các Tổ trưởng, Tổ phó bộ môn năng động, sáng tạo và đầy nhiệt huyết thời kỳ đầu những năm 1970, như thầy Nguyễn Quang Mỹ, Hoàng Đức Triêm, Phạm Quang Anh, Nguyễn Vi Dân, Nguyễn Hoàn,... đã cùng hàng trăm sinh viên các khóa lặn lội khắp các nẻo đường từ Nam ra Bắc, từ rừng núi đến miền ven biển và hải đảo, thực hiện thành công các đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn, được các địa phương, cơ sở sản xuất, Bộ ĐH và THCN, Trường ĐHTH HN đánh giá cao và trao cho nhiều phần thưởng xứng đáng.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, mọi hoạt động xã hội ở Miền Bắc lúc đó đều tập trung “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất nước nhà”. Do đó, thầy và trò Khoa Địa cũng như thầy và trò Trường ĐHTH Hà Nội và các trường đại học khác nói chung luôn sẵn sàng nhập ngũ để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của thanh niên “Thời loạn”. Trong 10 năm (1966 - 1975), thầy và trò Khoa Địa đã tham gia 6 đợt tuyển quân theo tiếng gọi của non sông đất nước. Đó là các đợt tuyển quân: 08/1970; 09/1971; 01/1972; 05/1972; 09/1972; 01/1975.

Tổng số sinh viên Khoa Địa nhập ngũ trong các đợt này là 82 và 4 cán bộ là các thầy giáo Nguyễn Bá Cự, Nguyễn Đình Hòe, Hoàng Ngọc Trà và Cao Công Tường. Chiến tranh kết thúc, nhiều sinh viên trở về trường và tiếp tục học tập (hoặc theo chuyên ngành đã được phân công trước khi nhập ngũ hoặc chuyển sang chuyên ngành khác, thậm chí chuyển sang các khoa khác). Trong số đó có nhiều sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc được giữ lại làm cán bộ giảng dạy như Vũ Văn Phái, Trương Quang Hải. Song có nhiều sinh viên không trở về nữa, các anh đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, như các anh:

         1. Nguyễn Hoàng Quý, sinh viên Khóa 3 ngành Khí tượng, hy sinh tại chiến trường Khu 4.

         2. Phạm Ngọc Côn, sinh viên Khóa 4 ngành Địa lý, hy sinh tại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng.

         3. Vũ Như Minh, sinh viên Khóa 5 ngành Địa chất, hy sinh tại chiến trường Nam Tây Nguyên.

         4. Nguyễn Văn Khải, sinh viên Khóa 5 ngành Địa chất, hy sinh tại chiến trường Nam Tây Nguyên.

Tóm lại, nét đặc trưng nhất của Khoa Địa trong thời kỳ này là kết hợp vừa đào tạo, vừa xây dựng. Công tác xây dựng ở đây không chỉ đơn thuần là cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng đào tạo trong thời chiến, mà còn là xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng khung chương trình, giáo trình để thực hiện phương châm “Dạy tốt, học tốt” như Bác Hồ đã căn dặn trong thư gửi thầy và trò cả nước nhân dịp khai giảng năm học 1968 - 1969.

Những kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ thực tiễn sản xuất và chiến đấu như đã nêu trên đã phản ánh đầy đủ quá trình tiến tới để xác định mục tiêu đào tạo phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Những kết quả đó được thể hiện cả ở số lượng và chất lượng. Số lượng cán bộ thuộc ngành Địa lý đã tăng từ 6 người năm 1966 (Nguyễn Quang Mỹ, Nguyễn Hoàn, Lê Đình Vần, Lê Hưng Khởi, Nguyễn Chí Soạn, Vương Tường Vân) đã tăng lên 17 người vào năm 1975. Trong số đó, đến năm 1975 đã có 3 cán bộ có học vị Phó tiến sỹ (nay là Tiến sỹ) là các thầy Nguyễn Quang Mỹ, Hoàng Đức Triêm và Lê Hưng Khởi.

Do nhu cầu của công tác điều tra cơ bản phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước sau khi kết thúc chiến tranh, ngay từ lúc mới thành lập, Khoa Địa đã tiến hành đào tạo tất cả các chuyên ngành có thể đào tạo được. Cho đến khoá học 1973-1974 trở đi, do sinh viên vào Khoa không nhiều, nên có sự luân phiên giữa các chuyên ngành đào tạo. Lúc đầu cách một năm, sau đó cách hai năm. Tình trạng này kéo dài cho đến khi Khối các khoa học Trái Đất được tách ra thành các khoa độc lập như hiện nay. Trong thời gian đầu 1966 - 1968, sinh viên được đào tạo theo chương trình 4 năm. Sau đó tăng lên 4,5 năm (1969-1978), rồi 5 năm (1979-1984) và trở lại 4 năm (từ 1985 đến nay).

Trong 10 năm đầu (1966 - 1975), Khoa Địa đã đào tạo được 6 khóa sinh viên ngành Địa lý. Tuy số lượng không đông, song nhiều sinh viên học tập tại Khoa trong thời kỳ này đã trưởng thành và trở thành những cán bộ “vừa hồng vừa chuyên” giữ nhiều cương vị lãnh đạo khác nhau:

1. Nguyễn Thành Vạn, sinh viên Khóa 1, hiện là Phó cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.

2. Ngô Quang Toàn, sinh viên Khóa 1, nguyên là Kỹ thuật trưởng Đoàn Địa chất Hà Nội.

3. Nguyễn Văn Hồng, sinh viên Khóa 2, Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Tài nguyên và Môi trường.

4. Đặng Bắc Quân, sinh viên Khóa 2, Phó thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tây.

5. Đỗ Trọng Khôi, sinh viên Khóa 2, nguyên là Giám đốc Bảo tàng Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc Phòng.

6. Nguyễn Thế Tiệp, sinh viên Khóa 3, Viện trưởng Viện Địa chất và Địa vật lý Biển, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

7. Nguyễn Thanh Sơn, sinh viên Khóa 3, Phó giám đốc Công ty Du lịch Hải Phòng.

8. Nguyễn Văn Hà, sinh viên Khóa 4, Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, tỉnh Quảng Bình.

9. Nguyễn Chu Chân, sinh viên Khóa 4, Phó tổng biên tập Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa.

10. Vũ Văn Vĩnh, sinh viên Khóa 5, Giám đốc Trung tâm Viễn thám và Hệ thông tin địa lý, liên đoàn Bản đồ Địa chất phía Nam.

11. Nguyễn Xuân Độ, sinh viên khóa 5, Giám đốc Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh Đắk Nông.

12.Nguyễn Văn Truyện, sinh viên Khóa 6, nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, tỉnh Hà Nam.

13. Ngô Quang An, sinh viên Khóa 6, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, tỉnh Nam Định.

II. Thời kỳ phát triển từng bước (1976 - 1995)

Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước liền một dải, nhu cầu phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước thống nhất đòi hỏi công tác điều tra cơ bản phải được đẩy mạnh và đồng bộ hoá với những công trình nghiên cứu có tính chất cơ bản của khoa học chuyên ngành. Do đó, việc tách ra các bộ môn độc lập theo những hướng đào tạo và nghiên cứu chuyên ngành trong khoa học Địa lý trở nên cần thiết. Vì vậy, trong thời gian 5 năm, Bộ môn Địa lý - Địa mạo được tách thành 3 bộ môn mới:

1. Bộ môn Địa lý tự nhiên tổng hợp, thành lập năm 1975, do PTS Hoàng Đức Triêm làm chủ nhiệm.

2. Bộ môn Địa mạo-Bản đồ, thành lập năm 1975, do PTS Nguyễn Quang Mỹ làm chủ nhiệm (bộ phận Bản đồ sau đó tách ra thành lập bộ môn mới).

3. Bộ môn Bản đồ, thành lập năm 1980, do GVC Hoàng Phương Nga làm chủ nhiệm.

Một đặc thù của tất cả các chuyên ngành là ngoài nhiệm vụ thực tập trong phòng thí nghiệm, trong quá trình học tập, sinh viên được rèn luyện qua nhiều đợt thực tập thực tế ngoài thiên nhiên và các cơ sở sản xuất. Trong quá trình học tập của mỗi khoá, những năm đầu, sinh viên được trang bị những kiến thức khoa học cơ bản chung cho mỗi ngành khoa học. Năm thứ ba và thứ tư các nhóm sinh viên được định hướng đào tạo theo các chuyên ngành của các bộ môn.

Để tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học có năng lực cho các trường đại học phía Nam sau khi đã thống nhất đất nước, phục vụ chiến lược phát triển lâu dài, Khoa Địa đã chia sẻ cán bộ Địa lý cho Trường Đại học Huế và Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh:

1.   PTS Hoàng Đức Triêm (ĐH Huế)

2. PTS Lê Hưng Khởi (ĐHTH TPHCM)

3. GV Vương Tường Vân (ĐHTH TPHCM)

4. KTV Trần Thị Giới (ĐH Huế)

Đầu năm 1979, một lần nữa đất nước lại trải qua một cuộc chiến tranh gian khổ, lần này là ở biên giới phía Bắc. Năm học của thầy trò lại bị xáo động. Ngày 23-3-1979, Trường ĐHTH HN đã động viên 1.335 cán bộ và sinh viên tham gia xây dựng “Phòng tuyến bảo vệ thủ đô” (thường gọi là Phòng tuyến sông Cầu) với phiên hiệu Trung đoàn 10 - Trung Đoàn Nguyễn Huệ do thầy Đặng Huy Chi - hiệu phó, làm Trung đoàn trưởng. Khoa Địa đã cử 18 cán bộ và một Trung đội sinh viên tham gia. PTS Nguyễn Quang Mỹ được bổ nhiệm Trung đoàn phó, kiêm Đảng uỷ viên Trung đoàn phụ trách hậu cần. Theo sự chỉ đạo của trên, Trung đoàn đã hoạt động rất hiệu quả trong thời gian 3 tháng. Thầy và trò Khoa Địa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Bước vào thập kỷ 80, đất nước gặp những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua trong quản lý kinh tế, tình hình xã hội và quan hệ quốc tế. Mọi khó khăn đã tác động trực tiếp tới Trường ĐHTH HN, tới Khoa Địa và để lại những hệ quả nặng nề, nhất là trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và đời sống. Chất lượng đào tạo có chiều hướng giảm sút, kế hoạch đào tạo được giao không tương xứng với thực tế sử dụng; kinh phí ít ỏi; cơ sở vật chất-kỹ thuật xuống cấp và thiếu thốn; những tiêu cực của xã hội tác động mạnh tới quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học; cán bộ và sinh viên phải bươn chải ngoài xã hội để lo cuộc sống,…

Nhằm ngăn chặn sự xuống cấp của chất lượng đào tạo, theo chỉ đạo của nhà trường mà trực tiếp là cấp ủy và Ban chủ nhiệm Khoa Địa cùng các tổ trưởng bộ môn và thư ký công đoàn, đã tập trung nỗ lực vào công tác quản lý đào tạo, đổi mới các đợt sinh hoạt chính trị, tăng cường công tác giáo viên chủ nhiệm và cố gắng chăm lo cho đời sống của cán bộ, công nhân viên. Nhiều cuộc họp bàn về công tác cải thiện đời sống đã diễn ra sôi nổi và bức xúc: làm gì và làm như thế nào để đảm bảo chất lượng đào tạo và chất lượng cuộc sống cho cả Khoa? Tổ sản xuất gạch men đã ra đời trong hoàn cảnh đó dưới sự quản lý của Công đoàn khoa. Thực chất, đây là một hình thức sản xuất thủ công nghiệp đơn thuần, không liên quan gì đến kiến thức khoa học của các thầy cô, song vì có thu nhập nên mọi người phải phân công nhau thực hiện. Thu nhập dù ít ỏi nhưng cũng đáp ứng được một phần yêu cầu cải thiện cuộc sống của cán bộ Khoa Địa. Mặt khác, do các cán bộ Địa lý hết sức nỗ lực, lặn lội tiếp cận thực tế, ký kết các hợp đồng nghiên cứu khoa học với các địa phương và các cơ sở sản xuất, lấy nguồn kinh phí này lo cho sinh viên đi thực tập chuyên đề, thực tập tốt nghiệp, nâng cao trình độ và nâng cao đời sống cho bản thân các thành viên tham gia hợp đồng cũng như cho toàn Khoa.

Từ các đề tài thực tế, quỹ phúc lợi của Khoa Địa đã được bổ sung bằng một khối lượng đáng kể các vật phẩm hết sức thiết yếu cho đời sống khó khăn trong những năm 80 như: đậu, lạc, gạo, cà phê, thịt,… Tiêu biểu nhất là các đề tài:

- Thành lập Atlas tài nguyên thiên nhiên - kinh tế - xã hội tỉnh Đắc Lắc, 1982 - 1985 (PTS Nguyễn Quang Mỹ chủ trì).

- Nghiên cứu sinh thái cây cà phê Đắc Lắc, 1982 - 1985, (GV Phạm Quang Anh chủ trì). 

- Đo vẽ bản đồ giải thửa một số xã của huyện Phú Xuyên Hà Tây, 1983 - 1984; đo vẽ đường phố Hà Nội phục vụ xây dựng tuyến đèn cao áp, 1984 - 1986 (Thầy Nguyễn Thế Phương chủ trì).

Song song với các đề tài ký với các địa phương và cơ sở sản xuất các cán bộ Địa lý chủ trì thực hiện một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, tiêu biểu như các đề tài: 

- Nghiên cứu xói mòn đất Tây Nguyên, 1977-1982 do PTS Nguyễn Quang Mỹ chủ trì.

- Nghiên cứu xói mòn đất Trung du, 1981-1985 do PTS Nguyễn Quang Mỹ chủ trì.

- Nghiên cứu Địa mạo bờ biển Thuận Hải, Ninh Hải, 1978-1981, GV Nguyễn Xuân Trường chủ trì.

- Nghiên cứu Địa mạo cửa sông ven biển Thái Bình, 1981-1985 do PTS Nguyễn Hoàn chủ trì.

Nhờ sự linh hoạt, năng động của thầy trò Khoa Địa nên một mặt chất lượng đào tạo được giữ vững và từng bước nâng cao, đời sống của cán bộ, sinh viên được cải thiện; mặt khác, tài liệu khoa học được tích luỹ từ các đề tài thực tế đã tạo điều kiện cho các cán bộ địa lý công bố 88 công trình nghiên cứu ở các Hội nghị khoa học Trường ĐHTH HN các năm 1984 (26 công trình), 1986 (18 công trình), 1988 (20 công trình), 1991 (24 công trình). Nhiều công trình trong đó đã hướng vào các đề tài mang tính chiến lược và cấp thiết trong khoa học và nền kinh tế- xã hội đất nước như: Nghiên cứu xói mòn đất và biện pháp phòng chống; Nghiên cứu hang động phục vụ du lịch (PTS Nguyễn Quang Mỹ); Nghiên cứu bờ biển và cửa sông (PTS Nguyễn Hoàn, GV Vũ Văn Phái); Hệ sinh thái Cà phê Đắc Lắc (GV Phạm Quang Anh). Một điều đáng ghi nhận là nhờ có các đề tài nghiên cứu khoa học mà nhiều cán bộ đã nâng cao trình độ chuyên môn, có số liệu để thực hiện làm luận án Tiến sỹ và Phó tiến sỹ, bảo vệ thành công ở trong và ngoài nước.

Cũng trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm và tài liệu khoa học trong khi thực hiện các đề tài mà các cán bộ Địa lý đã vững tin bước vào hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và đào tạo. Các đề tài hợp tác quốc tế trong những năm 80 được thực hiện có hiệu quả là:

- Xây dựng Bản đồ Địa mạo Đông Dương, tỉ lệ 1/1.000.000; Địa mạo Việt Nam tỷ lệ 1/500.000. Công trình hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Mátxcơva 1985 - 1989, phía Việt Nam do PTS Nguyễn Quang Mỹ chủ trì.

- Nghiên cứu cảnh quan Việt Nam phục vụ việc sử dụng tổng hợp tài nguyên. Công trình hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Mátxcơva, 1987 - 1991, phía Việt Nam do GV Phạm Quang Anh chủ trì.

- Nghiên cứu hợp lý hoá quá trình canh tác trên đất dốc ở nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 1983 - 1987. Hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Vacxava - Ba Lan, phía Việt Nam do GV Phạm Quang Anh chủ trì.

- Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên - sinh vật trong các hang động nhiệt đới. Hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Sophia, Bungari, 1989, phía Việt Nam do PTS Nguyễn Hoàn chủ trì.

Những năm cuối của thập kỷ 80, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn; song vì nghĩa vụ và sự hợp tác quốc tế, Trường ĐHTH HN đã cử 26 cán bộ sang giảng dạy và giúp đỡ xây dựng một số ngành đào tạo đại học ở Trường Đại học Tổng hợp Phnompenh (Campuchia). Trong số cán bộ đó, ngành Địa lý có 2 thầy giáo: Nguyễn Đức Khả và Nguyễn Thế Phương đã sang trực tiếp giảng dạy và đào tạo cán bộ giảng dạy cho Khoa Địa lý của Trường Đại học Tổng hợp Phnompenh ở hai chuyên ngành là Địa mạo và Trắc địa, trong thời gian gần 5 tháng.

Từ giữa những năm 80, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao cho ngành Địa lý của Khoa Địa Trường ĐHTH HN quản lý 2 chuyên ngành đào tạo sau đại học, đó là:

          1. Chuyên ngành Địa mạo và Cổ địa lý, mã số 1-07-03.

2. Chuyên ngành Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, mã số 1-07-14.

Nghiên cứu sinh đầu tiên được đào tạo và bảo vệ thành công luận án Phó tiến sỹ ở ngành Địa lý của Khoa Địa là Nguyễn Đắc Hy mã số 1-07-14 và sau đó là Nguyễn Thế Tiệp được đào tạo theo mã số 1-07-03; tiếp đó là Nguyễn Ngọc Thạch và Lê Văn Thăng đều được đào tạo theo mã số 1-07-14. Do nhiều điều kiện khách quan, trong giai đoạn 1976 - 1995 việc đào tạo sau đại học thuộc ngành Địa lý trong nước còn chưa được quan tâm nhiều lắm, nên những kết quả đạt được ở thời kỳ này còn hạn chế.

Trong năm 1988, Trường ĐHTH HN và Khoa Địa đón nhận 2 sự kiện lớn:

1. Cán bộ toàn trường bầu Hiệu trưởng Trường ĐHTH HN theo quy chế do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. PGS.TS Nguyễn An trở thành Hiệu trưởng đầu tiên của Trường thông qua phổ thông đầu phiếu. Tiếp đó, các Khoa Vật lý, Địa lý - Địa chất, Ngữ văn, Triết học và Kinh tế đã lần lượt tiến hành bầu Chủ nhiệm khoa, PGS.TS Đặng Trung Thuận trở thành Chủ nhiệm Khoa Địa lý - Địa chất đầu tiên được bầu theo quy trình tương tự như bầu Hiệu trưởng.

2. Từ năm học 1988-1989 ngành giáo dục đại học bắt đầu thực hiện đào tạo theo hai giai đoạn: Đại cương và Chuyên ngành. Khoa Địa một mặt phải xây dựng lại chương trình môn học phù hợp với sự chuyển hướng đào tạo của ngành, mặt khác, phải tăng cường hoạt động biên soạn giáo trình chính thống (in typô) để đáp ứng nhu cầu đào tạo và nghiên cứu khoa học trong tình hình mới.

Tính đến thời điểm năm 1988, ngành Địa lý chỉ có một số giáo trình ít ỏi in Rônêô là: Địa mạo đại cương (Đào Đình Bắc), Phương pháp nghiên cứu Địa mạo (Nguyễn Vi Dân), Địa mạo ứng dụng, Địa chất biển (Nguyễn Xuân Trường), Địa lý tự nhiên đại cương (Hoàng Đức Triêm), Trầm tích Đệ tứ và phương pháp phân tích Bào tử - Phấn hoa (Nguyễn Đức Khả). Vì vậy, Ban chủ nhiệm Khoa Địa đã động viên cán bộ và trực tiếp xin kinh phí phục vụ việc biên soạn giáo trình in typô, nhất là các giáo trình cơ sở. Đây là bước đi kịp thời để có hàng loạt giáo trình được xuất bản trong những năm 90 và những năm gần đây.

Đầu những năm 90 được đánh dấu bằng việc thành lập Đại học Quốc Gia Hà Nội theo Nghị định của Chính phủ ngày 20/12/1993. Giám đốc là GS.VS Nguyễn Văn Đạo. Tiếp đó năm 1995, bộ phận khoa học tự nhiên của Trường ĐHTH HN được tách ra để thành lập Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hiệu trưởng là GS.TS Đào Trọng Thi.

Với sự thay đổi cơ cấu tổ chức, hành chính và nhân sự của Đại học Quốc Gia Hà Nội, của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và những vấn đề bức xúc từ thực tiễn qua 10 năm thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế - xã hội đất nước (thực hiện theo nghị quyết Đại hội Đảng VI, 1986), trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực, nhiều vấn đề trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học không còn thích hợp, đòi hỏi phải được đổi mới và hiện đại hóa mà nổi lên là các vấn đề về hệ thống đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cải cách giáo dục đại học, cập nhật trình độ khoa học, công nghệ thế giới.

Để có điều kiện phát triển toàn diện các ngành đào tạo và đáp ứng được những yêu cầu của công cuộc đổi mới cũng như cập nhật được sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ hiện đại, Khoa Địa với nhiều ngành khác nhau của khoa học Trái đất đều đã trưởng thành cần phải được đổi mới và tổ chức lại nếu không muốn lỡ thời cơ và tụt hậu.

III. Thời kỳ đổi mới và phát triển toàn diện (1996 - nay)

Ngày 21 tháng 10 năm 1995, Giám đốc Đại học Quốc Gia Hà Nội GS.VS Nguyễn Văn Đạo đã ban hành Quyết định số 435/TCCB về việc thành lập 4 khoa mới trên cơ sở chia tách và sắp xếp lại Khoa Địa lý - Địa chất và Bộ môn Thổ nhưỡng của Khoa Sinh học, đó là:

         1. Khoa Địa chất

         2. Khoa Địa lý

         3. Khoa Khí tượng, Thủy văn và Hải dương học

         4. Khoa Môi trường

Khoa Địa lý được tổ chức và hợp nhất lại trên cơ sở ba bộ môn của Khoa Địa lý - Địa chất cũ là Bộ môn Địa mạo, Bộ môn Sinh thái cảnh quan và Môi Trường (Bộ môn Địa lý tổng hợp) và Bộ môn Bản đồ. Chủ nhiệm Khoa Địa lý đầu tiên được bổ nhiệm theo hình thức phổ thông đầu phiếu là PGS.TS Nguyễn Quang Mỹ, các Phó chủ nhiệm là PGS.TS Phan Văn Quýnh, PGS.PTS Nguyễn Cao Huần và PGS.PTS Trương Quang Hải. Có thể nói đây là một thời kỳ có rất nhiều cơ hội mới thuận lợi để phát triển, nhưng cũng không ít các thách thức đang đặt ra cho một Khoa mới. Vấn đề đặt ra là Khoa Địa lý sẽ làm gì? Đào tạo ra sao? Cơ cấu như thế nào? Mở rộng hay thu hẹp để đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn đổi mới?… Những vấn đề này đều đặt Ban chủ nhiệm khoa và Cấp ủy một thách thức rất lớn lao: Dừng lại ở phương thức truyền thống hay tiến lên theo hướng phát triển toàn diện và đổi mới?

Trọng trách của Ban chủ nhiệm Khoa Địa lý trong thời kỳ đổi mới thật khó khăn và nặng nề, mà trước mắt là phải xác định cơ cấu các chuyên ngành đào tạo, chương trình đào tạo, hệ thống phòng thí nghiệm và chiến lược phát triển lâu dài của Địa lý học. Mục tiêu đã được Ban chủ nhiệm và lãnh đạo Nhà trường xác định là: mở rộng đào tạo, từng bước hoàn chỉnh cơ cấu các chuyên ngành của Địa lý học hiện đại và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.

Năm 1996, Khoa Địa lý được tổ chức thành 3 bộ môn và một phòng thí nghiệm. Tên của các bộ môn, phòng thí nghiệm, trung tâm đồng thời cũng thể hiện hướng phát triển chiến lược của các chuyên ngành trong Địa lý là:

         1. Bộ môn Sinh thái Cảnh quan và Môi trường do PGS.PTS Nguyễn Cao Huần làm chủ nhiệm, PGS.PTS Trương Quang Hải làm phó chủ nhiệm.

         2. Bộ môn Địa mạo (tên mới là Địa mạo và Địa lý-Môi trường biển) do PTS Vũ Văn Phái làm chủ nhiệm, PTS Đặng Văn Bào làm phó chủ nhiệm.

        3. Bộ môn Bản đồ - Viễn thám do PGS.TS Phan Văn Quýnh làm chủ nhiệm, PTS Nhữ Thị Xuân làm phó chủ nhiệm.

        4. Phòng thí nghiệm/Trung tâm Viễn thám và Hệ Thông Tin Địa lý do PGS.TS Phan Văn Quýnh phụ trách.

Các bộ môn đã khẩn trương xúc tiến việc xây dựng khung chương trình đào tạo, chương trình chi tiết các môn học và bắt tay biên soạn các giáo trình cơ sở với chất lượng in typo hoặc lưu hành nội bộ (lưu hành trong Trường ĐH KHTN). Song song với việc chuẩn bị cơ sở kiến thức và cơ sở vật chất cho công tác đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa và các Bộ môn đã đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền ngành nghề bằng những buổi Seminar hấp dẫn mà đặc biệt là những cuộc đối thoại trực tiếp về ngành nghề giữa sinh viên, giáo viên và các cựu sinh viên thành đạt của Khoa Địa lý. Cuối giai đoạn I, số sinh viên đăng ký theo học trong các chuyên ngành của Khoa Địa lý ở giai đoạn II tăng lên từng khóa. Nếu trước đây mỗi khóa, ngành Địa lý chỉ tuyển sinh được 10, 15 sinh viên, có những chuyên ngành phải nhẩy cóc 2, 3 năm mới có sinh viên theo học thì nay mỗi khóa ngành Địa lý có tới 40 - 50, thậm chí 60 sinh viên theo học ở tất cả các chuyên ngành .

Sinh viên ra trường ở những khóa đầu của Khoa Địa lý mới đã khẳng định chất lượng đổi mới của công tác đào tạo và đã phát huy hiệu quả rất tốt trong các lĩnh vực khác nhau của công cuộc đổi mới đất nước, nhiều người đến nay đã có cương vị lãnh đạo ở các cơ quan nhà nước cũng như giám đốc các công ty kinh doanh.

Ngay từ thời điểm chưa tách các ngành trong Khoa Địa cũ (tháng 10/1995), ý tưởng về việc mở chuyên ngành đào tạo Địa nhân văn và Kinh tế Sinh thái, ngành đào tạo Địa chính đã có trong suy nghĩ của các cán bộ Địa lý đầu ngành. Qua thăm dò nhu cầu cán bộ trong hệ thống quản lý Nhà nước, nhu cầu thực tế của xã hội, tư duy trên đã được khẳng định là đúng.

 Trải qua một thời gian chuẩn bị và tranh thủ ý kiến, được sự đồng thuận của lãnh đạo Trường ĐH KHTN và các Bộ, Ngành liên quan, năm 1997 Khoa Địa lý đã có thêm 2 bộ môn mới: Bộ môn Địa nhân văn và Kinh tế sinh thái (do PTS Phạm Quang Anh chủ nhiệm); Bộ môn Địa Chính (Do GS.TS Đặng Hùng Võ kiêm nhiệm Chủ nhiệm Bộ môn, GVC Nguyễn Đức Khả Phó chủ nhiệm Bộ môn). Có thể nói đến thời gian này cơ cấu các ngành và chuyên ngành đào tạo của Khoa Địa lý đã tương đối hoàn thiện.

ở thời điểm năm 1997, đất nước đã trải qua 10 năm thực hiện công cuộc Đổi mới nền kinh tế - xã hội theo Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986). Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đặt ra nhiều yêu cầu hết sức bức xúc cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, đòi hỏi ngành Địa chính (mới được tái thành lập theo Nghị định 12/1994/NĐ-CP) phải được đổi mới và hiện đại hoá. Trong đó, việc đào tạo cán bộ Địa chính ở bậc đại học và sau đại học nổi lên như một nhu cầu cấp thiết nhất phải đi trước một bước.

Nắm bắt được nhu cầu cấp thiết của Nhà nước và xã hội, căn cứ vào trình độ đào tạo, tiềm năng chất xám và cơ sở vật chất hiện có, lãnh đạo Khoa Địa lý, lãnh đạo Trường ĐH KHTN đã cùng nhất trí về khả năng mở ngành đào tạo cử nhân khoa học ngành Địa chính ở Khoa Địa lý, Trường ĐH KHTN. ý tưởng nhạy bén này được lãnh đạo Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) hết sức ủng hộ và giúp đỡ: GS.TS Đặng Hùng Võ (nguyên Phó Tổng cục trưởng, nay là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường), Chuyên viên cao cấp Mai Xuân Yến (nguyên Vụ trưởng Vụ Thanh tra), TS Nguyễn Thơ Các (nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Địa chính),... đã trực tiếp tham gia cùng PGS.TS Nguyễn Quang Mỹ (nguyên Chủ nhiệm Khoa), PGS.TS Phan Văn Quýnh (nguyên Phó chủ nhiệm Khoa) xúc tiến việc chuẩn bị mọi mặt cho việc mở ngành đào tạo mới ở Khoa Địa lý.

Bộ môn Địa chính được thành lập ngày 20 tháng 9 năm 1997, với nhân sự ban đầu chỉ có 4 thành viên do GS.TS Đặng Hùng Võ làm Chủ nhiệm Bộ môn (cán bộ kiêm nhiệm), GVC Nguyễn Đức Khả làm Phó chủ nhiệm Bộ môn, thực hiện việc đào tạo cán bộ khoa học ngành Địa chính, gồm các loại hình đào tạo đại học chính quy và đại học vừa học vừa làm (Hệ tại chức) tiến tới đào tạo thạc sĩ Địa chính.

Công việc cấp thiết đầu tiên cần phải làm là hoạch định khung chương trình đào tạo và chương trình chi tiết cho cử nhân khoa học ngành Địa chính, vừa đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại, tổng hợp; vừa mang tính thực tiễn và ứng dụng cao ở Việt Nam mang dấu ấn chỉ có ở Khoa Địa lý Trường ĐH KHTN. Các cán bộ của Bộ môn Địa chính và cán bộ của Khoa Địa lý đã hợp tác chặt chẽ với các chuyên gia hàng đầu của Tổng cục Địa chính xây dựng hoàn chỉnh nội dung chương trình trong thời gian 1997- 1998 và đệ trình lên Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời tuyển sinh khoá đào tạo thứ nhất (giai đoạn 2).

Ngày 23 tháng 5 năm 2000, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 2063/QĐ-BGĐT-ĐH cho phép Trường ĐH KHTN được đào tạo trình độ đại học ngành Khoa học Địa chính theo chương trình khung và kế hoạch đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. Từ đó, các khoá đào tạo chính quy cử nhân khoa học ngành Địa chính với mã số ngành duy nhất trong cả nước là QHT 205 được thực hiện đều đặn hàng năm với số lượng 50- 60 sinh viên. Tính đến tháng 6 năm 2006 đã có khoảng 300 cử nhân khoa học Địa chính hệ chính quy được nhận bằng tốt nghiệp ở Khoa Địa lý Trường ĐH KHTN - ĐHQG Hà Nội.

Để góp phần đào tạo và xây dựng đội ngũ chuyên gia Địa chính chất lượng cao có trình độ lý luận, có kiến thức về công nghệ Địa chính hiện đại, có khả năng chủ động triển khai những nhiệm vụ thực tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô, có tầm nhìn chiến lược trong quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai quốc gia, đáp ứng được những đòi hỏi thực tế của ngành, theo sự chỉ đạo của Khoa Địa lý, Bộ môn Địa chính đã phối hợp với các cán bộ đầu ngành của Tổng cục Địa chính (cũ) xúc tiến việc chuẩn bị mở hệ đào tạo sau đại học ngành Địa chính.

Ngày 27 tháng 2 năm 2001, Bộ trưởng Bộ Gáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 965/QĐ-BGD-ĐT-SĐH giao nhiệm vụ đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành Địa chính cho Trường ĐH KHTN. Khoa Địa lý, Bộ môn Địa chính đã tranh thủ cơ hội, phối hợp chặt chẽ với đội ngũ cộng tác viên ở Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài Nguyên - Môi Trường) tiến hành đào tạo thạc sĩ ngay trong năm 2001. Tính từ năm 2001 đến tháng 6 năm 2006 đã có 12 thạc sĩ Địa chính được cấp bằng tốt nghiệp. Hiện nay, hàng chục học viên cao học Địa chính đang theo học ở Khoa.

Việc mở ngành đào tạo Địa chính là một sự kiện trọng đại trong tiến trình 40 năm phát triển của Khoa Địa lý (1966 - 2006). Mỗi năm, xấp xỉ 100 sinh viên các hệ đào tạo tới Khoa nhập học và ngành Địa chính cũng là ngành duy nhất trong số các ngành thuộc Khoa Địa cũ đều đặn mở được các lớp đào tạo theo Hệ vừa học vừa làm ở khắp các miền của đất nước: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Sơn La, Lào Cai, Hà Tây, Nam Định, Quảng Bình, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh,…

Dù mới ra trường chưa được bao lâu (5 năm) nhưng cử nhân khoa học Địa chính của Trường ĐH KHTN đã khẳng định được trình độ chuyên môn của mình, đảm trách nhiều cương vị quan trọng trong cơ quan Nhà nước cũng như các doanh nghiệp tư nhân.

Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của xã hội trong thời đại mới, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, các cán bộ của Khoa đã nung nấu quyết tâm chuyên sâu hóa ngành đào tạo Địa chính theo 2 chuyên ngành là Khoa học Địa chính và Công nghệ Địa chính. Năm 2003, theo sáng kiến của Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa, một nhóm chuyên gia đã được cử ra để soạn thảo khung chương trình đào tạo theo chuyên ngành và xây dựng dự án thành lập bộ môn mới - Bộ môn Công nghệ Địa chính. Đến năm 2005, chương trình đào tạo Cử nhân khoa học Địa chính theo hai chuyên ngành Khoa học Địa chính và Công nghệ Địa chính đã chính thức được ĐHQG Hà Nội phê duyệt và đưa vào thực tế. Tiếp theo đó, cuối năm 2006, Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường ĐH KHTN đã họp và thống nhất thông qua dự án thành lập Bộ môn Công nghệ Địa chính thuộc Khoa Địa lý. Sự kiện này đã đánh dấu một bước phát triển mới của Khoa Địa lý nói chung và ngành Địa chính nói riêng. 

Trong thời kỳ 1995-2000, công tác đào tạo sau đại học của Khoa Địa lý nói chung đã có những bước tiến lớn, thay đổi cả về chất và lượng. Mặc dù đã đào tạo được 4 Tiến sỹ Địa lý trong giai đoạn trước đây nhưng khung chương trình cho bậc đào tạo này chưa thật sự hoàn chỉnh. Theo sự chỉ đạo của ĐHQG HN và của Trường ĐH KHTN, tập thể các cán bộ Khoa với sự hợp tác với một số cán bộ ở các khoa và các cơ quan khác đã xây dựng hoàn thiện khung chương trình đào tạo sau đại học, trước tiên cho hai mã số đã có từ trước là: “Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên”, mã số 1 - 07 - 14 và “Địa mạo và Cổ địa lý”, mã số 1 - 07 - 03. Sau đó, khung chương trình đào tạo sau đại học còn được tiếp tục soạn thảo cho các mã số khác như Địa lý tự nhiên, Địa chính, Bản đồ - Viễn thám và Hệ thông tin địa lý, Địa Lý Kinh tế và Chính trị,… Chỉ tính riêng trong vòng 10 năm (1996 - 2006), Khoa Địa lý đã đào tạo được 16 Tiến sỹ:

1. Vũ Văn Phái, bảo vệ năm 1996. Cán bộ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG HN.

2. Đặng Văn Bào, bảo vệ năm 1996. Cán bộ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG HN.

3. Đỗ Xuân Sâm, bảo vệ năm 1996. Cán bộ Viện Địa Lý, Viện KH&CN Việt Nam.

4. Nguyễn Văn Vinh, bảo vệ năm 1996. Cán bộ Viện Địa lý, Viện KH&CN Việt Nam.

5. Phạm Quang Anh, bảo vệ năm 1997. Cán bộ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG HN.

6. Đinh Văn Huy, bảo vệ năm 1997. Cán bộ Viện Tài nguyên và Môi trường Biển Hải Phòng, Viện KH&CN Việt Nam.

7. Lê Xuân Hồng, bảo vệ năm 1997. Cán bộ Viện Cơ học, Viện KH&CN Việt Nam.

8. Nguyễn Thị Lan, bảo vệ năm 1997. Cán bộ ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh.

9. Hoa Mạnh Hùng, bảo vệ năm 2002. Cán bộ Viện Địa lý, Viện KH&CN Việt Nam.

10. Hà Văn Hành, bảo vệ năm 2003. Cán bộ Đại học KH Huế.

11. Nguyễn Thị Hải, bảo vệ năm 2003. Cán bộ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG HN.

12. Nguyễn Đăng Hội, bảo vệ năm 2004. Cán bộ Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga, Bộ Quốc phòng.

13. Nguyễn Văn Mạnh, bảo vệ năm 2004. Cán bộ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG HN.

14. Phạm Quang Tuấn, bảo vệ năm 2004. Cán bộ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG HN.

15. Phạm Quang Sơn, bảo vệ năm 2005. Cán bộ Viện Địa chất, Viện KH&CN Việt Nam.

16. Lê Thị Thu Hiền, bảo vệ năm 2006. Cán bộ Viện Địa lý, Viện KH&CN Việt Nam.

Ngoài ra, còn đào tạo được hàng chục Thạc sỹ thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau.

Hiện nay, số học viên Cao học và Nghiên cứu sinh trong Khoa Địa lý đã đến con số trăm người, riêng năm 2006 đã có tới 60 học viên theo học các chuyên ngành thuộc ngành Địa lý và Địa chính.

Sau khi xác định cơ cấu ngành và chuyên ngành, các bộ môn đã tích cực, chủ động tiến hành tham gia nghiên cứu khoa học, lấy đó làm mục tiêu thâm nhập thực tế, nâng cao kiến thức và hỗ trợ công tác đào tạo. Ngoài các đề tài mang tính truyền thống như điều tra tổng hợp lãnh thổ, đánh giá tiềm năng tài nguyên, tổ chức sản xuất theo quy luật sinh thái các vùng địa lý,...các bộ môn đã xây dựng và triển khai nhiều đề tài có tính công nghệ - kỹ thuật mũi nhọn hoặc mang tính cấp thiết ở tầm Quốc gia, khu vực và toàn cầu như các đề tài về Viễn thám, Hệ thông tin Địa lý, công nghệ GPS, Hệ thống thông tin đất đai, Tai biến thiên nhiên, Môi trường,... Bên cạnh các đề tài nghiên cứu khoa học chuyên sâu thuộc cấp Nhà nước, cấp Đại học Quốc gia, cấp Trường ĐH KHTN,... nhiều đề tài nghiên cứu khoa học mang tính liên ngành, đa ngành và liên kết với địa phương cũng đã được triển khai. Một số đề tài tiêu biểu như:

1. Nghiên cứu tổng hợp biến động môi trường Hạ Long - Quảng Ninh - Hải Phòng (Tài nguyên đất - nước - rừng). PGS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 1996 - 1998.

2. Xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Lào Cai: 2000 - 2002. PGS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì.

3. Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ cấp tỉnh 2001 -2003. Đề tài đặc biệt cấp ĐHQG HN - PGS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì.

4. Mô hình kinh tế sinh thái. PGS.TS Trương Quang Hải chủ trì.

5. Đánh giá tải lượng bồi lắng và ô nhiễm môi trường nước trên lưu vực Vịnh Cửa Lục - Quảng Ninh. PGS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 2003 - 2004.

6. Cơ sở khoa học cho việc xây dựng mô hình Hệ kinh tế sinh thái các điểm tái định cư sau thủy điện nhỏ Chu Linh, Sa Pa, Lào Cai. PGS.TS Đào Đình Bắc chủ trì.

7. Lập Bản đồ Địa mạo biển nông ven bờ (0-30 mét nước) Việt Nam tỷ lệ 1:500.000. PGS.TS Vũ Văn Phái chủ trì, 1991 - 2001.

8. Du lịch mạo hiểm Quảng Bình. PGS.TS Trương Quang Hải chủ trì, 2003 - 2005.

9. Quy hoạch du lịch Quảng Trị. PGS.TS Trương Quang Hải chủ trì, 2003 - 2005.

10. Quy hoạch bảo vệ môi trường xã Uông Bí đến 2010 và định hướng đến 2020. GS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 2004 - 2006.

11. Quy hoạch bảo vệ môi trường vùng Hạ Long - Cẩm Phả - Yên Hưng đến năm 2020. GS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 2006 - 2007.

12. Quy hoạch bảo vệ môi trường tổng thể và một số vùng trọng điểm tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020. GS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 2007 - 2009.

13. Luận chứng khoa học về mô hình quản lý tổng hợp và phát triển bền vững đới bờ biển các tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế. Đề tài Nhà nước KC.08.09/06-10. GS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 2006 - 2009.

14. Nghiên cứu phân vùng cảnh quan lãnh thổ Việt Nam - Lào với sự hỗ trợ của Viễn thám và Hệ thông tin Địa lý. GS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 2006 - 2008.

Tính riêng trong năm 2006, cán bộ Khoa Địa lý đang chủ trì 1 đề tài cấp Nhà nước, 4 đề tài trọng điểm ĐHQG, 4 đề tài đặc biệt cấp ĐHQG, 5 đề tài cấp ĐHQG, 24 đề tài NCCB và 3 đề tài cấp Trường ĐH KHTN.

Với mục đích trau dồi kiến thức địa lý khu vực và quốc tế cho toàn thể cán bộ Khoa Địa lý, đồng thời tạo điều kiện học hỏi thực tế cho các cán bộ Địa lý trẻ, từ mùa hè năm 2001, Khoa Địa lý đã đều đặn tiến hành các đợt du khảo xuyên Việt, xuyên Đông Dương và xuyên châu lục, lấy nguồn kinh phí tự trang trải từ Khoa và các cá nhân. Trong các đợt du khảo, Khoa Địa lý đã giao lưu và đặt mối quan hệ hợp tác trong nghiên cứu khoa học và đào tạo với các trường đại học lớn trong khu vực như: Viện Công nghệ châu á (AIT), Đại học Chiềng-mai (Thái Lan), Đại học Tổng hợp Viên-chăn (Lào), Đại học Sư phạm Nam Ninh (Trung Quốc), Đại học Quốc gia Malaysia, Đại học Nanyang (Singapore)...

Song song với các đề tài nghiên cứu khoa học trong nước, các cán bộ Địa lý không những nỗ lực, năng động trong lĩnh vực hợp tác nghiên cứu toàn diện với các trường đại học khu vực và quốc tế mà còn tiến tới xây dựng và triển khai nhiều dự án quốc tế, mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận trong nghiên cứu khoa học và đào tạo. Một số đề tài và dự án hợp tác quốc tế tiêu biểu như:

* Với Đại học Bordeaux III, Pháp: Quản lý tiến hoá đa dạng sinh học trong mối quan hệ với phương thức canh tác của dân cư tỉnh Lào Cai, phía Việt Nam do GS.TSKH Nguyễn Quang Mỹ chủ trì, 1999 - 2003.

* Với Đại học Sherbrook, Canada: Tăng cường năng lực đào tạo về Viễn Thám và Hệ thông tin địa lý (GIS) trong lĩnh vực môi trường và sức khoẻ ở Việt Nam, phía Việt Nam do GS.TSKH Nguyễn Quang Mỹ chủ trì, 2000 - 2005.

* Với Đại học phụ nữ Nara, Nhật Bản: Đổi mới nông thôn đồng bằng sông Hồng, phía Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 1999 - 2002.

* Với Đại học Tổng hợp Utrech, Hà Lan: Tiến hoá địa mạo của đới bờ trong Chương trình Delta sông Hồng, phía Việt Nam do PGS.TS Vũ Văn Phái chủ trì, 1998 - 2000.

* Với Đại học Tổng hợp Tokyo, Nhật Bản: Nghiên cứu biến đổi khí hậu lâu dài và cổ môi trường trong Hôlocen của rìa phía Đông delta sông Hồng, phía Việt Nam do PGS.TS Vũ Văn Phái chủ trì, 2000 - 2001.

* Với Hội hang động Hoàng gia Anh và Hội hang động Mỹ: Nghiên cứu hang động Karst phục vụ du lịch khai thác tài nguyên, xây dựng công trình, phía Việt Nam do GS.TSKH Nguyễn Quang Mỹ chủ trì, 1996 - 2006.

* Với Đại học Osaka, Nhật Bản: Xây dựng và bảo vệ môi trường - Nghiên cứu tại TP Hà Nội, Phía Việt Nam do GS.TS Nguyễn Cao Huần chủ trì, 1999-2004, 2005-2009.

Hiện nay, Khoa đang tiến hành một số hợp tác quốc tế theo hướng Địa lý nhân văn với Nhật Bản (Đại học Kansai, Đại học Otemon Garkuin, Đại học Tottori) với Canada (Đại học York, Đại học Montreal,...).